Giới thiệu

/Giới thiệu

LỜI DẪN

Họ ta, chiếu theo gia phổ chép bằng Hán văn của ông Nguyễn Văn Hiệu đời thứ sáu ( tục gọi là tổ Đàm, còn có tên là giáo), và cho đến năm giáp Thân, niên hiệu Bảo Đại năm thứ 19 Triều Nguyễn (1944), ông Chánh Cửu Phẩm Nguyễn Văn Hành, đời thứ tám soạn lại, cũng chép bằng Hán văn, có lời đề tựa, có vẽ bản đồ theo thế hệ, được Cửu Phẩm Lê Như Mai, người trong xã duyệt lại.

Nay chúng tôi được anh em trong họ giao trách nhiệm dịch soạn thành quốc văn để con cháu sau này dễ nhìn nhận.

Dòng dõi ta về trước thì không rõ, chỉ có bắt đầu từ lúc Ông Nguyễn Hưng Nhượng chức vụ Thập Lý Hầu, triều nhà Lê, thuộc xã Mỹ Hòa, tổng Đồng Công ( Tức là xã Đức Lập, Huyện Đức Thọ bây giờ). Đến đời thứ năm, ông Nguyễn Doãn Tư di cư đến thôn Phúc Xá, Dĩ Ốc, huyện Hương Sơn ( sau này gọi là xóm yên Thái, nay gọi là cơ sở Trung Hòa). Nguyên nhân ngài di cư đến đất này vì có sự liên quan đến bà dì của ngài là Nguyễn Thị Phấn ( tục gọi bà Hậu – sự tích về bà sẽ có trang ghi chép trong quyển gia phả này), vả lại lúc bấy giờ dưới triều Tây Sơn có luật phát tín bài, bắt buộc đàn ông phải đeo tín bài trước ngực.

Như vậy, họ ta có hai tộc phái: một tộc phái hiện nay ở xã Đức lập, Huyện Đức Thọ, Tộc trưởng là Nguyễn càng, có con là Nguyễn Chấn, và trong phái đó có những người như Luân, Thạch, Ngũ, Thành ….. một tộc phái hiện nay là con cháu chúng ta do thế hệ ông Nguyễn Doãn Tư sinh hạ, Ngài là vị tổ đứng đầu tộc phái ta.

Theo như lời Ông Nguyễn Văn Hiệu ( tức cố Đàm) để lại, họ ta lúc ấy gặp lúc loạn ly giấy tờ mất hết, chỉ nhớ các vị nhiều tuổi trong thôn xóm truyền miệng lại mà thôi, nên trong hai tộc phái ta không rõ ai là trưởng, ai là thứ, chỉ nhận định rằng nơi gốc là trưởng, nơi di cư ra ngoài là thứ, cũng là một việc mơ hồ.

Chúng tôi, tuân theo gia Phổ trước soạn dịch thành Quốc Văn, có vẽ bản đồ thế hệ rõ ràng, ngôi thứ, chức vụ phân minh để được dễ dàng nhìn nhận. Mong tất cả con cháu ta có nhiệt tình tư tưởng, nối tiếp sự nghiệp tổ tiên để lại dằng dặc muôn đời về sau.